Trước công đường Ninh Bình, mỗi lần quan hỏi, thầy giảng trẻ Đinh Văn Thanh thường đứng chờ vị linh mục của mình trả lời trước. Rồi thầy mới nói, giọng chắc chắn: người đã định thế nào, tôi cũng định như thế. Đó không phải sự rụt rè. Đó là lòng trung thành của một người học trò với người đã dẫn mình đến với Chúa.
Người lương dân xin rửa tội năm mười tám tuổi
Thầy sinh năm 1796 tại làng Nộn Khê, xứ Hảo Nho, tỉnh Ninh Bình, trong một gia đình không theo đạo. Năm mười tám tuổi, chàng trai tự mình xin học đạo và được rửa tội tại làng Phúc Nhạc. Đó là lựa chọn của riêng anh, giữa một thời mà theo đạo nghĩa là tự đặt mình vào vòng nguy hiểm.
Sau đó anh được đào tạo làm thầy giảng và đến giúp cha Phêrô Phạm Khắc Khoan. Cha Khoan giao cho thầy coi sóc trại Đông Biên. Đó là một việc cần sự đều đặn và kiên nhẫn: biết từng gia đình, lo từng giờ kinh, làm những việc nhỏ mà ít ai nhìn thấy. Cha Khoan quý thầy vì sự chăm chỉ và giỏi giang ấy.
Tên thầy nhiều nơi viết là Thành, nhưng chữ Hán ghi là Thanh, 清, nghĩa là trong sạch, trong sáng. Có lẽ đó cũng là chân dung đẹp nhất của thầy.
"Còn đạo thì tôi chẳng bỏ"
Ngày 24 tháng 8 năm 1837, cha Khoan, thầy Thanh và thầy Phêrô Nguyễn Văn Hiếu bị bắt tại Đông Biên và bị giải về Ninh Bình. Trước quan, thầy Thanh nói những lời mà tiểu sử còn giữ:
"Tôi là đầy tớ đạo trưởng đây, người đã định làm sao, tôi cũng định như làm vậy. Bẩm quan lớn, quan lớn thương thì tôi sống, bằng quan lớn muốn bắt tôi bỏ đạo thì tôi bằng lòng chịu chết. Còn đạo thì tôi chẳng bỏ."
Lời nói mộc mạc, lễ phép, không một chút thách thức. Nhưng trong đó có một ranh giới rõ ràng: mạng sống có thể trao, còn đức tin thì không.
Rồi đòn roi, gông cùm, những năm giam giữ và những lần bị ép bỏ đạo. Khi cha Khoan bị giam riêng, thầy Thanh và thầy Hiếu ở cạnh nhau, cùng chịu đựng, cùng nâng đỡ nhau qua gần ba năm chờ án.
Đêm cuối cùng trước ngày xử, ba vị thức trắng đọc kinh. Sáng ngày 28 tháng 4 năm 1840, trên đường ra pháp trường ở chân núi Cánh Diều, ba người cùng cất tiếng hát kinh cảm tạ. Thầy Thanh chịu án chém cùng người cha tinh thần và người bạn đồng hành của mình.
Giáo dân đem thi hài thầy về Yên Mối, sau đó chuyển về Phúc Nhạc, nơi năm xưa chàng trai mười tám tuổi đã được rửa tội. Thầy được phong Chân phước ngày 27 tháng 5 năm 1900 và được tôn phong Hiển Thánh ngày 19 tháng 6 năm 1988. Ngày kính riêng của thầy là 28 tháng 4.
Thầy Thanh bắt đầu đời đạo ở Phúc Nhạc, và cuối cùng trở về nằm lại chính nơi ấy. Giữa hai lần đó là một con đường không dài lắm, nhưng thầy đã đi đến cùng, bên cạnh người thầy mà thầy đã chọn theo.