Các Thánh Bổn Mạng
‹ 117 Thánh Tử đạo Việt Nam

Bối cảnh lịch sử

Trước khi gặp từng người

Con số 117 nghe thật tròn trịa, như một đoàn người đứng xếp hàng. Nhưng nếu lại gần, ta sẽ thấy từng gương mặt. Một ông lang ở Quảng Bình bốc thuốc không lấy tiền người nghèo. Một người mẹ ở Ninh Bình có sáu đứa con. Một anh lính quê Huế dệt lụa cho triều đình. Một ông thợ mộc ngày ngày kéo chuông nhà thờ. Một cậu chủng sinh mười tám tuổi. Và những giám mục tóc bạc từ Tây Ban Nha, từ nước Pháp, đã sống ở đất này lâu hơn ở quê mình.

Họ sống ở những làng quê khác nhau, trong những thập niên khác nhau. Có người biết chữ Nho, có người chưa từng đến trường. Có người sinh ra trong nhà đạo, có người đến với Chúa khi đã ba mươi tuổi. Điều nối họ lại với nhau chỉ có một: khi bị buộc phải chọn giữa mạng sống và đức tin, họ đã không bỏ Chúa.

Tử đạo nghĩa là gì

Chữ "tử đạo" trong truyền thống Kitô giáo trước hết có nghĩa là làm chứng. Ai sống ngay thẳng, thương người, trung thành với Chúa mỗi ngày là đang làm chứng. Người tử đạo làm chứng đến tận cùng: họ chấp nhận cái chết thay vì chối bỏ điều mình tin. Sách Giáo lý Hội Thánh Công giáo, số 2473, gọi đó là chứng tá cao nhất cho chân lý đức tin.

Nhưng tử đạo không có nghĩa là đi tìm cái chết. Đọc đời các ngài, ta sẽ gặp rất nhiều lần các linh mục phải trốn trong hầm, trong vườn mía, trong ổ rơm, cải trang thành người làm thuê nhổ cỏ. Các ngài muốn sống, vì đàn chiên còn cần mình. Chỉ đến khi không còn lối nào khác, hoặc khi thấy người khác đang chịu đòn thay mình, các ngài mới bước ra.

Và các ngài cũng không phải những người không biết sợ. Có người đã từng yếu lòng bước qua thập giá, rồi đau đớn quay về, và đứng vững đến chết. Giáo Hội không giấu những lần vấp ngã ấy. Chính chúng làm cho sự can đảm của các ngài trở nên thật hơn, và gần với chúng ta hơn.

Hạt giống đầu tiên

Tin Mừng đến đất Việt qua nhiều đợt truyền giáo. Đầu thế kỷ XVII, những cộng đoàn Công giáo đã hình thành ở cả Đàng Trong lẫn Đàng Ngoài. Năm 1659, Tòa Thánh thiết lập hai địa phận tông tòa đầu tiên, tức hai vùng truyền giáo do những vị đại diện của Tòa Thánh chăm sóc.

Ngay từ những ngày đầu, người Việt đã không đứng ngoài. Các thầy giảng dạy giáo lý, dịch sách, đi trước linh mục để dọn đường. Các ông trùm, ông lý lo việc họ đạo, giữ nhà thờ, che giấu các cha. Những bà mẹ dạy con đọc kinh. Những gia đình mở cửa nhà cho linh mục trú ẩn, dù biết cái giá có thể là cả mạng sống. Vì thế, câu chuyện các thánh tử đạo không phải chỉ là chuyện của những giáo sĩ ngoại quốc. Đó là chuyện của cả một dân tộc đón nhận đức tin, và giữ nó bằng máu của chính mình.

Những năm tháng thử thách

Thái độ của các triều đại đối với đạo Công giáo thay đổi theo thời. Có những giai đoạn tương đối yên ổn, như thời Gia Long, khi các chủng viện được mở lại và nhà thờ được dựng lên. Và có những giai đoạn truy bắt gắt gao.

Những vị tử đạo sớm nhất trong đoàn 117 chết dưới thời các chúa Trịnh, năm 1745 và năm 1773. Rồi đến thời Tây Sơn, năm 1798. Nhưng phần đông các ngài chịu chết dưới ba triều Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức, trong khoảng từ năm 1833 đến năm 1862.

Nhà cầm quyền thời ấy nhìn tôn giáo đến từ phương Tây với nhiều nỗi lo: lo cho trật tự, cho quyền cai trị, cho những mối liên hệ với người nước ngoài. Về cuối thời kỳ ấy, khi tàu chiến Pháp và Tây Ban Nha kéo đến Đà Nẵng năm 1858, nỗi lo biến thành nghi kỵ. Người Công giáo dễ bị xem là tay trong của giặc.

Nhưng đọc đời các ngài, ta thấy rõ điều ngược lại. Có anh cai đội đã tình nguyện ra trận đánh giặc, chỉ không chịu dâng hương và bước qua thập giá. Có ông cha già tám mươi tuổi đã khuyên giáo dân đừng cầm vũ khí. Có vị giám mục cấm tín hữu tham gia nổi dậy. Có người tuyên bố trước quan: tôi luôn tuân lệnh vua quan trong những điều phải lẽ, chỉ không thể chối bỏ Chúa tôi. Các ngài không chết vì chống lại đất nước. Các ngài chết vì không chịu phản bội đức tin.

Cũng không phải mọi viên quan đều tàn nhẫn. Có viên tuần phủ tìm cách cứu một linh mục già. Có những người lính canh mềm lòng, để giáo dân vào thăm, thậm chí xin theo đạo. Có người không cùng đức tin vẫn đứng ra lo chôn cất một vị giám mục. Giữa bóng tối, lòng tốt của con người vẫn le lói.

Những chữ ta sẽ gặp

Trong các câu chuyện, có những chữ lặp đi lặp lại. Hiểu chúng một chút sẽ giúp ta hình dung các ngài đã trải qua điều gì.

"Bước qua thập giá" là cách người ta buộc người bị bắt làm một cử chỉ công khai để tỏ ra đã bỏ đạo. Chỉ một bước chân. Và hàng trăm người đã chọn chết thay vì bước bước chân ấy.

"Xử trảm" là chém đầu. "Xử giảo" là thắt cổ bằng dây. "Lăng trì" và "bá đao" là những hình phạt tàn khốc nhất thời ấy. Có người bị thiêu sống trong cũi tre. Có người chết trong ngục vì đói, vì bệnh, vì tuổi già trước khi án được thi hành.

"Phân sáp" là chính sách dưới thời Tự Đức, từ năm 1861: người Công giáo bị đuổi khỏi làng mình, nhà cửa ruộng vườn bị tịch thu, bị đưa đến sống xen trong các làng lương dân để bị canh giữ. Nhiều người còn bị khắc hai chữ "tả đạo" lên má, bên kia là tên quê quán, để đi đâu cũng không giấu được. Có một ông cụ đã tìm cách xóa hai chữ ấy, và nhờ bạn tù khắc lại hai chữ "chính đạo".

Ta nhắc đến những điều ấy không phải để kể chuyện rùng rợn, mà để biết các ngài đã yêu Chúa đến mức nào.

117 người là những ai

Ngày 19 tháng 6 năm 1988, tại quảng trường Thánh Phêrô ở Rôma, Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã tôn phong 117 vị tử đạo Việt Nam lên hàng Hiển Thánh. Các ngài chịu chết trong khoảng từ năm 1745 đến năm 1862.

Con số 117 không phải là tổng số người Công giáo Việt Nam đã chết vì đạo. Trong nhiều thế kỷ, số người ngã xuống lớn hơn rất nhiều, phần đông không còn ai nhớ tên. 117 vị là những người mà Giáo Hội đã điều tra hồ sơ kỹ lưỡng và chính thức tôn vinh. Có thể nói, các ngài đứng đó đại diện cho cả một đoàn chứng nhân vô danh.

Trong 117 vị, có 96 người Việt và 21 thừa sai ngoại quốc: 11 người Tây Ban Nha, phần lớn thuộc Dòng Đa Minh, và 10 người Pháp thuộc Hội Thừa sai Paris.

Chia theo bậc sống, có 8 giám mục, 50 linh mục, 14 thầy giảng, 1 chủng sinh và 44 giáo dân. Thầy giảng là giáo dân được đào tạo để dạy giáo lý và giúp việc truyền giáo, không phải linh mục. Chủng sinh là người đang học để làm linh mục. Người chủng sinh duy nhất là thánh Tôma Trần Văn Thiện, mới mười tám tuổi.

Trong 44 giáo dân, có ông quan án, ông chánh tổng, ông lý trưởng, ông trùm, có thầy thuốc, người lính, người đánh cá, người thợ may, thợ mộc, người nông dân, người làm thuê. Và có một người phụ nữ duy nhất: thánh Anê Lê Thị Thành, một người mẹ có sáu người con, đã chết trong ngục vì che chở các linh mục.

Con đường đến ngày vinh quang

Các ngài không được tôn vinh trong một ngày. Tòa Thánh đã lần lượt phong Chân phước cho từng nhóm: năm 1900, năm 1906, năm 1909 và năm 1951. Rồi đến năm 1988, cả 117 vị được hợp lại và cùng được tôn phong Hiển Thánh.

Lễ kính chung các Thánh Tử đạo Việt Nam là ngày 24 tháng 11. Ngoài ra, mỗi vị còn có ngày kính riêng, gắn với ngày các ngài về trời.

Cũng cần nói thêm: Chân phước Anrê Phú Yên, người thanh niên tử đạo năm 1644, là một chứng nhân rất quan trọng của Giáo Hội Việt Nam. Thầy được phong Chân phước năm 2000, nên không nằm trong danh sách 117 vị được tuyên thánh năm 1988.

Những gương mặt

Khi đọc 117 câu chuyện, ta sẽ gặp những sợi dây nối người này với người kia.

Ở làng Quần Cống, Nam Định, có "Nhất gia tam Thánh": cụ Án Khảm, người con trai Luca Thìn từng lạc lối rồi được cha kéo trở về, và ông Cai Tả biết tha nợ cho người nghèo. Ba người một nhà, cùng chịu chết một ngày.

Ở Ngọc Cục, năm người cùng làng, trong đó có hai anh em ruột, cùng bị bắt một ngày, cùng lần hạt trong ngục Bạch Cốc, cùng ra pháp trường một buổi sáng. Ở Kẻ Báng, ba linh mục và hai giáo dân đã che chở các ngài cùng về trời một ngày. Ở Cổ Mễ, năm người, hai thầy giảng và ba giáo dân, đã biến nhà tù Bắc Ninh thành nơi rửa tội cho hơn bốn mươi người.

Có những cặp thầy trò không rời nhau: cha Tự và thầy Úy, người học trò xin được "chết với cha"; cha Jaccard và cậu chủng sinh Thiện cùng chịu xử giảo ở Quảng Trị; thầy giảng Phêrô Tự xin được theo Đức cha Cao vào ngục. Có những người chủ nhà và người khách cùng ra pháp trường, như ông lang Phượng và cha Hoan đã trú trong nhà ông.

Và có những người đã ngã rồi đứng dậy: ba người lính trả lại tiền thưởng, đi bộ ra kinh đô dâng sớ xin được giữ đạo; ông thầy giảng già Tôma Toán hai lần yếu lòng, rồi quỳ hôn thập giá và chết trong ngục; ông Phêrô Thuần được các bạn tù nâng dậy sau một lần chối đạo.

Đọc để gặp những con người

Các thánh tử đạo không sinh ra đã là thánh. Trước ngày cuối cùng, các ngài đã có cả một đời: đánh cá, chữa bệnh, cày ruộng, dạy học, nuôi con, lo việc làng. Có người hiền lành, có người ngang tàng. Có người thông minh, có người học mãi không thuộc bài. Có người từng sợ, từng sai.

Vì thế, khi đọc về các ngài, xin đừng chỉ nhìn vào pháp trường. Hãy nhìn cả người vợ đứng khóc bên đường, người mẹ hỏi con có nợ ai không để trả giúp, đứa trẻ bị đánh mà cha không thể nằm yên trong vườn mía. Hãy nhìn những bàn tay đã lau nước mắt cho người khác ngay trong ngục tối.

Và có lẽ, sau khi đọc, ta sẽ tự hỏi: đức tin mà các ngài đã trả bằng cả mạng sống, hôm nay mình đang giữ nó thế nào?

Giờ hãy gặp từng người ›