Ở làng Kẻ Sải có một cậu bé mồ côi, ngày ngày dắt trâu ra đồng cho người chú đã cưu mang mình. Không ai nghĩ cậu bé ấy về sau sẽ là một linh mục đi thuyền khắp các họ đạo, thăm người bệnh, giúp người nghèo, và cuối cùng hiến mạng sống vì đức tin. Cậu tên là Hưởng.
Từ bờ ruộng đến bàn thờ
Laurensô Nguyễn Văn Hưởng sinh năm 1802 tại Kẻ Sải, xã Tụy Hiền, huyện Hoài Yên, nay thuộc Giáo phận Hà Nội, trong một gia đình nghèo. Cha mẹ mất sớm, cậu về ở với người chú và làm việc chăn trâu.
Năm mười hai tuổi, cậu gặp cha Tuấn. Vị linh mục thấy cậu bé sáng dạ, liền nhận về nhà xứ. Ba năm học chữ Nho ở đó mở ra cho cậu một con đường mới. Cậu vào chủng viện Vĩnh Trị, rồi làm thầy giảng ở Bạch Bát. Sau đó thầy được gọi về học thêm thần học và chịu chức linh mục.
Cha lần lượt coi sóc Giang Sơn, Lạc Thổ, Yên Lộc và Bạch Bát. Giáo dân nhớ cha không chỉ vì những bài giảng, mà vì những lần cha ghé thăm người bệnh, người già neo đơn, và vì bàn tay cha luôn mở ra với người nghèo. Có lẽ cha hiểu họ hơn ai hết. Chính cha từng là đứa trẻ không cha không mẹ, từng phải sống nhờ lòng tốt của người khác.
Những câu hỏi nơi công đường
Năm 1855, khi đang đi thuyền đến ban bí tích cho giáo dân, cha bị bắt. Quan tổng đốc Ninh Bình ra sức dụ dỗ:
"Nếu ông chịu đạp lên Thánh Giá, ta tha tội chết và cho đến tu tại chùa Non Nước."
Cha đáp, giản dị và thật lòng:
"Tôi không biết gì về thần, Phật, làm sao ở chùa được?"
Quan còn đem ra những lời đồn đại thời ấy về người Công giáo, chẳng hạn chuyện họ làm điều gì đó kỳ lạ với mắt người bệnh sắp chết. Cha kiên nhẫn giải thích, như một người thầy giảng giải cho học trò:
"Xin quan đừng nghe những lời đồn đãi sai sự thật. Chúng tôi chỉ xức dầu thánh trên mắt, mũi, miệng và tay chân để xin Chúa tha các tội mà bệnh nhân đã dùng chúng để phạm tội."
Cha cũng cho quan biết người Công giáo vẫn nhớ ơn và cầu nguyện cho ông bà cha mẹ đã khuất. Đứng trước bản án tử, cha không chỉ bảo vệ đức tin của mình, mà còn muốn người khác hiểu đúng về những gì mình tin.
Sau nhiều lần hỏi cung và đánh đòn, bản án chém được gửi về kinh. Ngày 27 tháng 4 năm 1856, dưới triều vua Tự Đức, cha bị xử tại Ninh Bình. Giáo dân đưa thi hài cha về an táng tại Vĩnh Trị, nơi cha từng học những năm tuổi trẻ.
Cha được phong Chân phước ngày 2 tháng 5 năm 1909 và được tôn phong Hiển Thánh ngày 19 tháng 6 năm 1988. Ngày kính riêng của cha là 27 tháng 4.
Đời cha Hưởng như một vòng tròn trọn vẹn. Cậu bé chăn trâu năm nào từng cần được người khác cưu mang, lớn lên đã trở thành người cưu mang biết bao người khác. Và khi được đề nghị một lối thoát dễ dàng, cha đã chọn ở lại với Đấng đã cưu mang mình từ thuở ấy.