Có một cuốn sách ngữ pháp Latinh viết bằng tiếng Việt, để các chủng sinh Việt Nam học dễ hơn. Người soạn cuốn sách ấy là một linh mục trẻ người Tây Ban Nha, mới đến Việt Nam được ít năm. Để làm được điều đó, cha phải thông thạo tiếng Việt, và phải thật hiểu những cậu học trò của mình.
Người anh cả rời nhà
José Díaz Sanjurjo sinh ngày 26 tháng 10 năm 1818 tại Tây Ban Nha. Anh là con cả trong một gia đình có năm người con. Người con cả thường là chỗ dựa của cha mẹ. Vậy mà anh lại chọn ra đi.
Anh vào Dòng Đa Minh, khấn dòng năm 1843, và chịu chức linh mục năm 1844. Sau chặng đường qua Manila, Ma Cao, ngày 12 tháng 9 năm 1845, cha đặt chân đến Đông Đàng Ngoài và nhận tên Việt là An.
Thầy giáo của các chủng sinh
Cha được giao dạy các chủng sinh ở Nam Am. Cha học tiếng Việt, và học giỏi đến mức có thể biên soạn một cuốn văn phạm Latinh bằng tiếng Việt cho học trò.
Hãy nghĩ đến công việc ấy. Một người ngoại quốc, ngồi bên ngọn đèn dầu, dịch từng quy tắc ngữ pháp Latinh sang tiếng Việt, tìm cách giải thích sao cho những cậu học trò quê Nam Định, Thái Bình dễ hiểu nhất. Đó là tình yêu dành cho người học trò, dành cho Giáo Hội Việt Nam.
Giám mục ba mươi mốt tuổi
Năm 1849, khi mới ba mươi mốt tuổi, cha được chọn làm giám mục phó Giáo phận Trung. Ngài đi thăm các họ đạo, có lần phải bỏ dở chuyến đi vì bị truy lùng và mắc bệnh sốt rét.
Khi tình hình tạm lắng, ngài tổ chức sinh hoạt, dạy giáo lý, quy tụ các cộng đoàn. Và có một việc ngài làm rất rõ ràng: khi có một cuộc nổi dậy chống triều đình, ngài lên tiếng cấm các tín hữu tham gia. Ngài muốn người Công giáo sống đức tin của mình, không bị cuốn vào những cuộc xung đột chính trị hay quân sự.
Bị bắt và biệt giam
Nhưng điều đó không cứu được ngài. Ngài bị tố cáo là trưởng đạo, bị bắt và biệt giam tại Nam Định khoảng hai tháng.
Trong những ngày ấy, có lẽ ngài đã suy niệm nhiều về câu Thánh Vịnh:
"Ai nghẹn ngào ra đi gieo giống, mùa gặt mai sau khấp khởi mừng." (Tv 126,5)
Ngài đã ra đi gieo giống, rời xa gia đình, rời xa quê hương. Ngài đã gieo những hạt giống trong lòng các chủng sinh, trong các họ đạo. Mùa gặt, ngài sẽ không được thấy. Nhưng ngài tin mùa gặt sẽ đến.
Tạ ơn trước giờ chết
Ngày 20 tháng 7 năm 1857, dưới triều vua Tự Đức, Đức cha An bị điệu ra pháp trường Bảy Mẫu. Trước khi bị hành quyết, ngài quỳ xuống cầu nguyện, tạ ơn Thiên Chúa đã tạo dựng ngài và dẫn đưa ngài đến Đại Nam giảng đạo.
Tạ ơn. Không phải than trách vì sao phải chết ở xứ người. Mà tạ ơn vì đã được đến xứ này.
Ngài bị xử chém khi mới ba mươi tám tuổi.
Ngài được phong Chân phước ngày 29 tháng 4 năm 1951 và được tôn phong Hiển Thánh ngày 19 tháng 6 năm 1988. Ngày kính riêng của ngài là 20 tháng 7.
Mùa gặt mai sau
Đức cha An sống ở Việt Nam mười hai năm. Không dài, nhưng đủ để để lại một cuốn sách cho học trò, những cộng đoàn được quy tụ, và một tấm gương về lòng biết ơn.
Những chủng sinh học văn phạm Latinh từ cuốn sách của ngài về sau trở thành linh mục, và rồi họ lại dạy những thế hệ khác. Đó chính là mùa gặt mà ngài đã tin, dù chẳng bao giờ được nhìn thấy.